UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành Quyết định số 3675/QĐ-UBND phê duyệt kết quả kiểm kê tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Việc công bố các chỉ tiêu kiểm kê tài nguyên nước (lần đầu) trên các lưu vực sông nội tỉnh trên cơ sở thông tin, số liệu kiểm kê và tính toán có độ tin cậy. Các số liệu kiểm kê về tài nguyên nước, khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước là số liệu quan trọng phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước, quy hoạch, điều hòa, phân bổ tài nguyên nước; làm cơ sở để hoàn thiện chính sách, pháp luật về tài nguyên nước hướng tới việc đảm bảo an ninh tài nguyên nước, phát triển kinh tế - xã hội và chuyển đổi số quốc gia, thực hiện dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực tài nguyên nước.
Theo đó, thời gian thực hiện dự án kiểm kê tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai từ tháng 6/2024 đến hết 31/12/2024. Dự án sử dụng mô hình Hec - HMS và Phương pháp GIS để tính toán chỉ số kiểm kê tổng lượng dòng chảy đối với các sông suối thực hiện kiểm kê.
Dự án sử dụng phương pháp thu thập, điều tra khảo sát, phân tích, thống kê và GIS để thực hiện kiểm kê chỉ tiêu số lượng các nguồn nước mặt (sông, hồ ao) nội tỉnh; chỉ tiêu danh mục công trình khai thác, sử dụng nước; chỉ tiêu lượng nước khai thác cho các mục đích sử dụng; chỉ tiêu danh mục công trình xả nước thải, lưu lượng xả vào nguồn nước.
Dự án kiểm kê tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn đến năm 2025 hoàn thành mục tiêu và sản phẩm đã đề ra gồm: Tính toán, kiểm kê số lượng nguồn nước mặt với các đặc trưng: số lượng các nguồn nước mặt nội tỉnh, tổng lượng nước trên sông, suối nội tỉnh, tổng dung tích các hồ chứa; Đánh giá, kiểm kê về chất lượng nguồn nước theo chỉ số chất lượng nước tổng hợp; Tính toán kiểm kê về khai thác sử dụng nước mặt; Tính toán kiểm kê xả nước thải vào nguồn nước.
Sông Hồng chảy qua địa phận tỉnh Lào CaiBên cạnh đó, Dự án đã tạo thêm được nguồn dữ liệu và bản đồ phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước và môi trường gồm: Dữ liệu và bản đồ về nguồn nước của các lưu vực sông kiểm kê tỉnh Lào Cai; Dữ liệu và bản đồ về các công trình hồ chứa, khai thác sử dụng nước và xả thải của tỉnh Lào Cai. Dự án thực hiện kiểm kê số lượng, đặc trưng của 40 sông suối theo phê duyệt. Trên cơ sở rà soát, đã có 46 sông, suối/09 huyện, thị xã, thành phố được thực hiện kiểm kê tài nguyên nước theo đặc trưng kiểm kê là lưu lượng và tổng lượng dòng chảy các suối với các đặc trưng theo tháng, theo mùa và cả năm.
Kết quả cho thấy tổng lượng nước nội tỉnh trong trung bình năm của các sông kiểm kê đạt khoảng 12.290 triệu m3 ; trong đó tổng lượng mùa lũ khoảng 9.869 triệu m3, chiếm khoảng 80% cả năm và mùa cạn chiếm khoảng 20%, tương ứng 2.421 triệu m3. Nguồn nước sông suối tỉnh Lào Cai phần nhiều các lưu vực sông là khá dồi dào để cung cấp nước phục vụ dân cư, phát triển phát triển hạ tầng nhằm thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế - xã hội của tỉnh. Có một số vùng xa nguồn nước, tài nguyên nước mặt hạn chế xảy ra tình trạng hạn hán, thiếu nước vào mùa khô tại một số vùng thuộc các huyện: Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai dẫn đến khó khăn về nguồn cung cấp nước ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sản xuất của người dân và nguy cơ càng trầm trọng hơn khi có sự ghi nhận về xu thế gia tăng nhiệt độ và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Đối với kiểm kê chất lượng nước, kết quả tính toán qua các năm 2021, 2022, 2023, 2024 cho thấy chất lượng nước tại các điểm quan trắc phần lớn ở mức tốt, phù hợp sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp và chất lượng nước được cải thiện theo từng năm. Trong số 221 hồ được tổng hợp, xét theo tiêu chuẩn kiểm kê; có 188 hồ chứa được lựa chọn thực hiện kiểm kê. Trong đó hồ thủy lợi gồm 115 công trình với tổng dung tích hơn 16,55 triệu m3 và 73 công trình hồ thủy điện với tổng dung tích hơn 283,85 triệu m3. Tổng công suất phát điện khoảng 1.158 MW. Số công trình hồ thủy điện tập trung nhiều tại huyện Văn Bàn, hồ thủy lợi tập trung nhiều tại huyện Bảo Thắng, hồ thủy điện có dung tích lớn nhất tại huyện Bắc Hà. Hệ thống hồ chứa có lượng trữ nước khá lớn đã góp quan trọng trong cung cấp điện và phân bổ lại nguồn nước cung cấp trong mùa cạn cho dân cư, nông nghiệp, các ngành dịch vụ, phát triển kinh tế - xã hội…